Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của internet và các nền tảng mạng xã hội, việc trao đổi, chia sẻ thông tin ngày càng thuận tiện. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, vẫn còn tình trạng một số cá nhân lợi dụng không gian mạng để đăng tải, lan truyền thông tin sai sự thật, bịa đặt, vu khống, xâm phạm danh dự, nhân phẩm và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đây là hành vi vi phạm pháp luật và có thể bị xử lý nghiêm theo quy định hiện hành.

1. Người đăng tải thông tin sai sự thật, vu khống có thể bị xử lý như thế nào?

Theo quy định của pháp luật, người viết, đăng tải, cung cấp hoặc chia sẻ thông tin sai sự thật, bịa đặt, vu khống người khác có thể bị xử lý vi phạm hành chính, chịu trách nhiệm dân sự hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả gây ra.

Việc xác định trách nhiệm pháp lý phải căn cứ vào kết quả xác minh của cơ quan có thẩm quyền đối với nội dung thông tin, mức độ sai sự thật, mục đích của người thực hiện hành vi và các yếu tố liên quan. Không phải mọi trường hợp đăng tải thông tin sai sự thật đều bị xử lý hình sự, nhưng nếu có đủ căn cứ chứng minh hành vi cố ý xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác thì người vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

2. Hành vi đăng tải, chia sẻ thông tin sai sự thật trên mạng xã hội có thể bị xử phạt hành chính

Theo Điều 101 Nghị định số 15/2020/NĐ-CP của Chính phủ, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 14/2022/NĐ-CP, hành vi lợi dụng mạng xã hội để cung cấp, chia sẻ thông tin giả mạo, thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống hoặc xúc phạm uy tín của cơ quan, tổ chức, danh dự, nhân phẩm của cá nhân là hành vi vi phạm pháp luật.

Đối với cá nhân, mức phạt tiền có thể từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng. Ngoài ra, người vi phạm còn có thể bị buộc gỡ bỏ thông tin sai sự thật hoặc thông tin vi phạm pháp luật đã đăng tải.

Đối với tổ chức, mức phạt có thể từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng theo quy định hiện hành.

3. Cố ý bịa đặt, vu khống người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự

Pháp luật bảo vệ quyền được tôn trọng về danh dự, nhân phẩm và uy tín của mọi cá nhân, tổ chức. Trường hợp người viết, đăng tải hoặc loan truyền thông tin biết rõ là sai sự thật nhưng vẫn cố ý thực hiện nhằm xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác thì có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự về Tội vu khống theo Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Theo quy định, người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 50 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm.

Đối với trường hợp sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử để thực hiện hành vi vu khống, mức hình phạt có thể tăng lên từ 1 năm đến 3 năm tù. Trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 3 năm đến 7 năm và chịu các hình phạt bổ sung theo quy định của pháp luật.

Như vậy, việc cố ý bịa đặt, dựng chuyện hoặc biết rõ thông tin là không đúng sự thật nhưng vẫn đăng tải, chia sẻ nhằm hạ thấp uy tín, danh dự của người khác không chỉ là hành vi vi phạm hành chính mà còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

4. Người cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật để người khác đăng tải cũng có thể phải chịu trách nhiệm

Người không trực tiếp đăng tải nhưng biết rõ thông tin là sai sự thật mà vẫn cố ý cung cấp, hỗ trợ hoặc tạo điều kiện để người khác sử dụng thông tin đó nhằm thực hiện hành vi vi phạm pháp luật cũng có thể bị xem xét trách nhiệm tùy theo tính chất, mức độ và vai trò của mình.

Trường hợp hành vi đủ yếu tố xác định là đồng phạm, trách nhiệm của từng người được xem xét theo quy định của Điều 17 Bộ luật Hình sự và các quy định có liên quan.

Hình thức xử phạt và mức xử phạt được áp dụng tương tự như đối với trường hợp người viết, đăng tải hoặc loan truyền thông tin mà biết rõ là sai sự thật nhưng vẫn cố ý thực hiện, nhằm xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Do đó, mỗi cá nhân cần có trách nhiệm kiểm chứng nguồn tin, không cung cấp hoặc tiếp tay lan truyền những thông tin mà mình biết rõ là sai sự thật.

5. Không được lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác

Hiến pháp và pháp luật Việt Nam bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và các quyền tự do dân chủ của công dân. Tuy nhiên, việc thực hiện các quyền này phải trong khuôn khổ pháp luật và không được xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Trường hợp lợi dụng các quyền tự do dân chủ để đăng tải, chia sẻ thông tin sai sự thật, vu khống, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác hoặc gây ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì tùy từng trường hợp có thể bị xem xét theo Điều 331 Bộ luật Hình sự.

Theo quy định hiện hành, người vi phạm có thể bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Nếu hành vi gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội thì mức phạt tù có thể từ 2 năm đến 7 năm.

6. Bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín là trách nhiệm của mỗi cá nhân

Ngoài trách nhiệm hành chính hoặc hình sự, người có hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác còn có thể phải thực hiện trách nhiệm dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. Người bị xâm phạm có quyền yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm, cải chính thông tin, xin lỗi công khai và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định.

Mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức trách nhiệm khi sử dụng mạng xã hội, kiểm chứng thông tin trước khi đăng tải, chia sẻ; không tiếp tay cho việc phát tán thông tin chưa được kiểm chứng, sai sự thật hoặc mang tính vu khống. Việc cung cấp, đăng tải và lan truyền thông tin đúng sự thật không chỉ là trách nhiệm công dân mà còn góp phần xây dựng môi trường thông tin lành mạnh, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật.

Căn cứ pháp lý: Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, đặc biệt Điều 17 và Điều 156; Bộ luật Dân sự năm 2015, đặc biệt quy định về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín; Nghị định số 15/2020/NĐ-CP của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử, được sửa đổi, bổ sung; Nghị định số 147/2024/NĐ-CP của Chính phủ quy định về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng; Các văn bản pháp luật có liên quan.

 

Tin, hình ảnh: Y Wel Niê